(+84) 463.28.7979

Tự động triển khai host máy ảo


Hẳn bạn đã quen thuộc với những lý do chính đáng nên cài đặt một môi trường Hyper-V, nhưng một trong những lý do cụ thể là cách mà Hyper-V làm thuận tiện hơn cho các đánh giá thành phẩm và training trong các lab kiểm tra và những môi trường học tập mà không từ bỏ tính tương thích 64-bit.

Hyper-V chạy ngay cả trên phần cứng c64-bit mức độ cổng vào cung cấp cho bạn một CPU có năng lực và một update BIOS gần đây để hỗ trợ ảo hoá phần cứng. Nó làm bùng nổ việc triển khai các môi trường kiểm tra full-scale dựa trên các phiên bản phần mềm được hỗ trợ, như phiên bản 64-bit của Microsoft Exchange Server 2007. Một khi bạn đã cài đặt triển khai, cũng đơn giản để triển khai lại bất kì lúc nào bạn cần để bắt đầu từ sự hỗn tạp, xem xét một sản phẩm mới hay bắt đầu một session lớp mới.

Ngay cả nếu bạn đang triển khai một môi trường test cho một khác hàng có hai domain controller (DCs), một máy tính chạy SQL Server, hai server đầu cuối SharePoint, một server Exchange 2007 Mailbox, một server Hub Transport, và một server Client Access, hẳn sẽ rất tốn công.

Gải sử bạn có một môi trường lớn hơn, có thể là 600 Virtual Machines (VMs). Bạn có thể tưởng tượng việc cài lại những VM này mỗi tuần hay bất kể khi nào môi trường lab mới là cần thiết không?

Cũng rất cần thiết để tự động những triển khai này, là đây là lúc mà Hyper-V có thể làm nên sự khác biệt. Hyper-V là công nghệ Windows, và bạn có thể kết hợp nó với Windows Management Instrumentation (WMI), Windows PowerShell, Windows Deployment Services (WDS), Windows Automated Installation Kit (AIK), và Windows Preinstallation Environment (Windows PE) 2.0 để kích hoạt triển khai full-scale chỉ trong nháy mắt – hay còn ít hơn mà không cần phải tốn công nhiều. Bạn sẽ thấy thích thú khi nhìn vào màn hình cài đặt và bar quá trình trong khi hệ thống tự triển khai và cấu hình chúng, nhưng bạn không cần phải làm điều này nếu bạn có nhiều việc quan trọng hơn cần phải lo.

Trong bài này, tôi sẽ hướng dẫn bạn các triển khai các server Hyper-V, VM, hệ điều hành guest, và những ứng dụng server mà không cần đến bất kì tác động của quản trị nào dùng WDS, các image tuỳ chỉnh cài đặt, các file unattend.xml, và các script WMI. Ý tưởng là để cấu hfinh trước một môi trường WDS một lần và sau đó cài đặt hệ điều hành test bất kì lúc nào cần, như cài đặt lại hệ điều hành giảng dạy, giải quyết các vấn đề phức tạp trong những giải pháp cấu hình, triển khai và kiểm tra tuỳ chỉnh khác nhau.

Tác động duy nhất cần thiết trong suốt khi cài đặt là nhấn phím F12 để launch Preboot eXecution Environment (PXE), và bạn có thể loại bỏ cả bước này nếu bạn dùng Startrom.n12 tahy vì file boot Startrom.com mặc định trong cấu hfinh WDS của bạn.

Những nhiệm vụ còn lại sau đó được WDS, AIK, và WMI xử lý, một khi bạn đã khởi động Hyper-V VMs. Bạn sẽ có tểh tìm các file và script cấu hình của site TechNet Magazine Web tại technet.microsoft.com/magazine/cc135868. Các image thật sự cài đặt không được tính vào, vì chúng quá lớn, nhưng bạn có thể adapt những file đồng hành đến môi trường lab của riêng bạn.


Cấu trúc triển khai

Lõi của cấu trúc triển khai lab của tôi là server WDS chạy Active Directory Domain Services (AD DS), Domain Name System (DNS), Dynamic Host Configuration Protocol (DHCP), và tất nhiên là WDS. Để tiện cho việc quản trị, tôi cũng cài đặt AIK và các công cụ Hyper-V cho việc quản trị từ xa trên server này. Như vậy là đủ để sẵn sàng để triển khai Hyper-V một cách hiệu quả. Bạn có thể đưa thêm các server WDS nếu có tính sẵn có cao mặc dù sự phong phú cũng quan trọng với bạn. Các máy tính vật lý còn lại là các server Hyper-V, được triển khai thông qua WDS và host VM hình thành nên môi trường test thật sự, như hình 1.
Auto-deploy-host-machine-1
Hình 1 Môi trường lab full-scale dựa trên Hyper-V và các máy ảo


Triển khai Hyper-V dựa trên WDS

Một trong những ưu điểm của triển khai WDS cho Hyper-V là WDS đơn giản hoá update cài đặt media Windows Server 2008, nó cần thiết bởi vì media ban đầu chỉ chứa một phiên bản tiền ra mắt của Hyper-V. Phiên bản được ra mắt thật sự có sẵn là một update tách biệt trên Microsoft Download Center.
Ngắn gọn, bạn cần thực hiện những bước sau: Triển khai Windows Server 2008 trên một máy tính reference, update các cài đặt bằng những file Hyper-V mới nhất, cài đặt Hyper-V, dùng Sysprep.exe để khái quát hoá cài đặt, capture và upload image cài đặt khái quát hoá đến server WDS, sau đó tự động triển khai mặc định Hyper-V cho tất cả các host trong cáu trúc vật lý. Tôi thích dùng Windows Server 2008 Server Core cho Hyper-V vì các server Hyper-V của tôi được dành riêng để host các VM và Server Core offer một footprint hệ điều hành nhỏ cũng như bảo mật, đảm bả, và những ưu điểm quản lý. Để capture các image cài đặt, tôi dùng WDS.
Cài đặt Hyper-V mặc định dựa trên WDS là việc dễ dàng, nhưng cấu hình không được quan tâm cũng không hoàn toàn không có khó khăn. Vấn đề là bạn cần chạy Sysprep.exe để khái quát hoá cài đặt tham khảo trước khi capture và upload image cài đặt, bấy giờ Sysprep.exe remove thông tin cấu hình quan trọng từ image Hyper-V được khái quát.
Ngoài ra, Sysprep.exe khái quát hoá Boot Configuration Data (BCD) và remove hypervisor launch chỉ dẫn từ store BCD. BCD được hỗ trợ thành firmware độc lập, nhưng không phải là trường hợp của Hyper-V. Hypervisor phụ thuộc vào khả năng ảo hoá của các phần cứng nằm bên dưới và BIOS, nên hypervisor launch trực tiếp phải đi qua để khái quát hoá image cài đặt. Cũng có thể thay đổi store BCD offline sau khi khái quát hoá Sysprep, nhưng đó không phải là giải pháp.
Nếu bạn mount image cài đặt dùng ImageX.exe (một công cụ có trong AIK), bạn có thể re-enter launch chỉ dẫn bằng cách sử dụng BCDEdit.exe; tuy nhiên, Windows Setup remove chỉ dẫn này trong suốt giai đoạn khái quát của lộ trình cài đặt thông thường. Bạn lại quay về như ban đầu.
Mẹo nằm ở đây vì bạn cần launch chỉ dẫn để khởi động hypervisor. Không chạy hypervisor, server Hyper-V sẽ không hoạt động. Hình 2 cho thấy một thông báo lỗi khi cố gắng khởi động một VM trên một server Hyper-V, được triển khai bằng cách dùng một image cài đặt tuỳ chỉnh nhưng không có một điều chỉnh của cấu hình boot.
Auto-deploy-host-machine-2
Hình 2 Không thể khởi động các máy ảo vì hypervisor không chạy
Một cách để re-enter hypervisor launch chỉ dẫn là add nó bằng tay sau khi cài đặt server bằng cahcs chạy tự động lệnh bcdedit /set hypervisorlaunchtype và restart lại server Hyper-V, nhưng bước thủ công này sẽ là một cản trở cho triển khai test lab không được quản lý. May mắn, AIK có cả Windows System Image Manager, mà bạn có thể tạo một file không quản lý unattend.xml cho image cài đặt mà WDS áp dụng trong suốt cài đặt đến file WDSClientUnattend.xml riêng của nó. Trong file unattend.xml này, bạn có thể xác định Setup nên tự động đăng nhập vào Windows với credential quản trị được client WDS áp dụng và sau đó chạy một script insert chỉ vẫn launch hypervisor quay lại store BCD và sau đó restart server.
Hình 3 mô tả cách tiếp cận chung, và nguyên liệu đi kèm có trong phiên bản đầy đủ của file unattend.xml cũng nh script hypervconfig.vbs hoàn chỉnh. Bạn có thể đưa script hypervconfig.vbs trực tiếp vào image cài đặt để nó sẽ available trong suốt cài đặt.
Auto-deploy-host-machine-3
Hình 3 Cấu hình lại và khởi động hypervisor

Pages: 1 2 3

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *